Đề khảo sát năng lực học sinh môn Ngữ văn Lớp 12- Năm học 2019-2020 - Trường THPT Phan Đình Phùng (Có đáp án)

docx 5 trang giaoanhay 24/02/2026 50
Bạn đang xem tài liệu "Đề khảo sát năng lực học sinh môn Ngữ văn Lớp 12- Năm học 2019-2020 - Trường THPT Phan Đình Phùng (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đề khảo sát năng lực học sinh môn Ngữ văn Lớp 12- Năm học 2019-2020 - Trường THPT Phan Đình Phùng (Có đáp án)

Đề khảo sát năng lực học sinh môn Ngữ văn Lớp 12- Năm học 2019-2020 - Trường THPT Phan Đình Phùng (Có đáp án)
 Sở giáo dục đào tạo Phú Yên
Trường THPT Phan Đình Phùng
(Đề thi có 02 trang)
 ĐỀ THI KHẢO SÁT NĂNG LỰC HỌC SINH LỚP 12. Năm học 2019 - 2020
 Môn: Ngữ Văn
 Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian phát đề)
I. Đọc hiểu. 3 điểm Đọc đoạn trích văn bản sau và thực hiện các yêu cầu.
 Sự trong sáng của tiếng nói không chỉ thể hiện ở các quy tắc bền vững và các chuẩn mực xác 
định của ngôn ngữ dân tộc mà còn được thể hiện sinh động qua thực tiễn sử dụng, đó là “tiếng nói của 
quần chúng nhân dân, đầy tình cảm, hình ảnh, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý 
nghĩa, đồng thời nó là ngôn ngữ của văn học, văn nghệ mà những nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc ta 
như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,những nhà văn, nhà thơ hiện nay () đã nâng lên đến trình độ cao về 
nghệ thuật, khiến cho nó trở nên trong sáng, đẹp đẽ lạ thường ” (Phạm Văn Đồng). Thật vậy, là một 
thứ tiếng đơn tiết tính, giàu thanh điệu, vần điệu, nhiều âm thanh có sức gợi tả, vốn từ vựng phong phú, 
nhiều cách nói đa dạng, tiếng Việt có khả năng biểu đạt rất linh hoạt và đẹp đẽ.
Như thế phẩm chất trong sáng của tiếng Việt không tách rời với tính chất giàu đẹp của nó (). Sự 
trong sáng không mâu thuẫn với việc tiếp thu một số từ vựng, cách nói của tiếng nước ngoài, không 
mâu thuẫn với việc các nhà văn và nhân dân không ngừng tạo ra cách nói mới để làm giàu cho tiếng 
nói dân tộc.
 Nhưng sự trong sáng không chấp nhận sự pha tạp, lai căng như việc lạm dụng từ ngữ tiếng 
nước ngoài. Những từ tiếng Việt có mà không dùng, lại vay mượn tùy tiện tiếng nước ngoài thì đó là 
lạm dụng. Sự trong sáng của tiếng Việt cũng không chấp nhận những cách nói thiếu văn hóa, thiếu lịch 
sự trong giao tiếp.
 () Trong thời kì hiện nay, tiếng Việt đang phát triển rất mạnh mẽ, với vị thế ngày càng được 
nâng cao, chức năng xã hội ngày càng rộng lớn. Mỗi thành viên của cộng đồng dùng tiếng Việt càng 
phải có ý thức đầy đủ đối với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, và quan trọng hơn, ý thức đó 
phải trở thành hành động cụ thể. 
 (Trích Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, dẫn theo Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 1,Sđd) 
Câu 1. Theo đoạn trích, sự trong sáng của tiếng Việt thể hiện ở những yếu tố, phương diện nào?
Câu 2. Theo đoạn trích, vì sao sự trong sáng của tiếng Việt không mâu thuẫn với việc các nhà văn và 
nhân dân không ngừng tạo ra cách nói mới.?
 Trang 1 Trường THPT Phan Đình Phùng
Tổ Ngữ Văn
 Đáp án ĐỀ THI KHẢO SÁT NĂNG LỰC HỌC SINH LỚP 12. Năm học 2019 - 20120
 Môn: Ngữ Văn
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Yêu cầu chung: Phần này kiểm tra năng lực đọc hiểu văn bản của thí sinh, đòi hỏi thí sinh phải huy 
động kiến thức và kĩ năng đọc hiểu văn bản để làm bài. Đồng thời, học sinh biết vận dụng vào thực tế 
cuộc sống và học tập để nêu ví dụ minh họa và phân tích ví dụ.
Yêu cầu cụ thể:
1. Theo bài viết ở đoạn trích, sự trong sáng của tiếng Việt thể hiện ở 04 yếu tố, phương diện: 
 - Sự trong sáng của tiếng nói thể hiện ở các quy tắc bền vững và các chuẩn mực xác định của ngôn 
ngữ dân tộc 
- Việc tiếp thu một số từ vựng, cách nói của tiếng nước ngoài, và việc các nhà văn và nhân dân không 
ngừng tạo ra cách nói mới để làm giàu cho tiếng nói dân tộc.
- Sự trong sáng không chấp nhận sự pha tạp, lai căng như việc lạm dụng từ ngữ tiếng nước ngoài.
- Sự trong sáng của tiếng Việt cũng không chấp nhận những cách nói thiếu văn hóa, thiếu lịch sự trong 
giao tiếp.
 Học sinh trả lời được 3/4 ý trên thì đạt điểm tối đa: 0.5đ
2. Theo bài viết ở đoạn trích, sự trong sáng của tiếng Việt không mâu thuẫn với việc các nhà văn và 
nhân dân không ngừng tạo ra cách nói mới vì cách nói mới sẽ góp phần làm giàu cho tiếng nói dân tộc. 
0.5đ
3. Học sinh viết được câu văn có sử dụng lạm dụng tiếng nước ngoài: 0.75đ
Học sinh chỉ ra từ ngữ lạm dụng: 0.25đ
4 1.0 đ Học sinh có thể chỉ ra khả năng biểu đạt phong phú, tinh tế của tiếng Việt qua một số yếu tố 
ngôn ngữ sau: - Sức gợi của những từ láy: lơ thơ, đìu hiu, chót vót
 - Các từ ngữ, hình ảnh tương phản: nắng xuống – trời lên, sông dài – trời rộng
 - Từ ngữ sáng tạo độc đáo: sâu chót vót...(học sinh có thể nêu những yếu tố độc đáo khác nữa)
 Trang 3 . Vai trò sáng tạo và giữ gìn mọi giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: lưu truyền phương thức sản 
xuất Nông nghiệp, giữ gìn nền văn minh loài người (giữ lửa), giữ gìn tiếng nói dân tộc, giữ gìn bản sắc 
văn hóa làng xã.
. Vai trò chủ thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước: Họ đắp đập be bờ tạo nên ruộng đồng, 
bờ bãi phì nhiêu cho đời sau cấy trồng, thu hái. Họ đánh đuổi cả ngoại xâm lẫn nội thù để giữ gìn hòa 
bình, tự do, độc lập cho quê hương, xứ sở.
Nghệ thuật: Sử dụng những hình ảnh cụ thể, giàu sức gợi.
Phép liệt kê, phép điệp.
Hình ảnh thơ gợi liên tưởng độc đáo về phong tục, truyền thống của người Việt. 
*Đánh giá chung: Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” bao trùm xuyên suốt đoạn trích, chi phối mọi 
chiều cảm nhận của nhà thơ về các phương diện không gian địa lí, thời gian lịch sử và bản sắc văn hóa. 
Trong đoạn thơ này, tư tưởng ấy được thể hiện bằng lời khẳng định, ngợi ca công lao vĩ đại của nhân 
dân trên hành trình dựng nước và giữ nước, được thể hiện một cách độc đáo, phong phú qua ngòi bút 
giàu chất trữ tình – chính luận của Nguyễn Khoa Điềm. Từ đó khơi gợi trong tâm trí người đọc lòng 
biết ơn, tình yêu và ý thức trách nhiệm với nhân dân, đất nước. 0.5đ
- Đảm bảo hình thức bài văn nghị luận: 0.5đ
- Bài viết đảm bảo chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt và có tính sáng tao: 0.5đ
Người ra đề: Ngô Thị Diễm Châu
Người phản biện đề: Lê Thị Kim Ánh
 Trang 5

File đính kèm:

  • docxde_khao_sat_nang_luc_hoc_sinh_mon_ngu_van_lop_12_nam_hoc_201.docx