Đề cương ôn tập học kỳ II môn Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2019-2020 - Trường THPT Phan Bội Châu

doc 17 trang giaoanhay 09/02/2026 70
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập học kỳ II môn Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2019-2020 - Trường THPT Phan Bội Châu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kỳ II môn Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2019-2020 - Trường THPT Phan Bội Châu

Đề cương ôn tập học kỳ II môn Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2019-2020 - Trường THPT Phan Bội Châu
 TRƯỜNG THPT PHAN BỘI CHÂU 
 TỔ : NGỮ VĂN 
 ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 12 – HỌC KỲ II –
 NĂM HỌC 2019 – 2020
A. GiỚI HẠN KIẾN THỨC
I. Đọc Văn
 1,Vợ chồng A Phủ (trích) – Tô Hoài
 2.Vợ nhặt – Kim Lân
 3.Chiếc thuyền ngoài xa (trích) – Nguyễn Minh Châu
Ii. Tiếng Việt
 1.Phong cách ngôn ngữ hành chính.
III.Làm Văn
1. Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi.
2. Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong văn nghị luận.
3. Diễn đạt trong văn nghị luận
B. CẤU TRÚC ĐỀ
I / PHẦN I (3 điểm): Phần đọc hiểu
- Các lỗi văn bản
 - Các biện pháp tu từ
 - Phong cách ngôn ngữ.
 - Phương thức biểu đạt
 - Phép liên kết.
 - Nội dung văn bản.
 - Liên hệ với vấn đề đời sống ...
II/ PHẦN II (7 điểm): Phần làm văn
 1/ Câu 1. (2,0 điểm): Phần nghị luận xã hội (1 vấn đề trong phần đọc hiểu)
 - .Nghị luận về một tư tưởng đạo lý:
 - Nghị luận về một hiện tượng trong đời sống:
 2/ Câu 2. (5,0 điểm): Phần nghị luận văn học. ( 3 tác phẩm )
 C. PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC(5 đ )
Yêu cầu về kĩ năng
HS biết cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm .một đoạn
trích văn xuôi. Bài viết có luận điểm, luận cứ rõ ràng Bố cục chặt chẽ, diễn đạt trôi 
chảy, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. a. Kể chuyện lôi cuốn, hấp dẫn. - Nghệ thuật dựng cảnh, tạo không khí 
 đặc sắc, gợi lên màu sắc dân tộc đậm đà.
 b. Miêu tả diễn biến tâm lý tinh tế, hợp lý, nhiều chỗ nhập vào tâm sự nhân 
 vật.
 c. Ngôn ngữ phong phú, sáng tạo có chọn lọc phù hợp với ngôn ngữ địa 
 phương.
 d. Nhân vật Mị.
 - Mị qua cách giới thiệu của tác giả
 - Trước khi về làm dâu nhà thống lí:
 - Số phận làm dâu trừ nợ
 - Diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân:
 - Suy nghĩ và hành động của Mị trước cảnh A Phủ bị trói.
 e. Nhân vật A Phủ
 - Thân phận của A Phủ
 - Cảnh xử kiện quái đản, lạ lùng
 - Cuộc đời nô lệ và sự vùng thoát:
 - Tính cách:
 II. Vợ Nhặt
 1.Tác giả: Tên khai sinh: Nguyễn Văn Tài. Quê: tỉnh Bắc Ninh.
 - Kim Lân là cây bút truyện ngắn thành công về đề tài nông thôn và 
 người nông dân, là nhà văn một lòng một dạ đi về với “đất”, với “người”, 
 với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn 
 - Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2001.
 2, Tác phẩm
a. Xuấ t xứ - hoàn cảnh sáng tác: Truyệ n “ Vợ nhặ t” có tiền thân là tiểu thuyết “ 
 Xóm ngụ cư” .
 Tiể u thuyết nà y đượ c viế t ngay sau khi Cách mạ ng thá ng Tá m thà nh công 
 nhưng còn dang dở và mất bản thảo. Sau khi hoà bình lậ p lại (1954), Kim 
 Lân đã dự a và o cố t truyện cũ để viế t “ Vợ Nhặ t”.
 b. Tóm tắt tác phẩm
 c. Nộ i dung và nghệ thuật:
 C1.) Nội dung: Tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.
 Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê 
 thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 
 mà còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu ở họ : ngay 
 trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khao khát tổ ấm gia 
 đình và thương yêu đùm bọc lẫn nhau.
 C2 . Nghệ thuật:
 -Tình huống truyện độc đáo, hấ p dẫ n. vài lời nửa đùa nửa thật thị đã chấp nhận theo không Tràng. Giá trị con 
 người bị phủ nhận khi chỉ vì cùng đường đói khát mà phải trở nên trơ 
 trẽn, liều lĩnh, bất chấp. Cái đói đã bóp méo cả nhân cách con người.
 f.Giá trị nhân đạo: Tình nhân ái, cưu mang đùm bọc nhau, khát vọng 
 hướng tới sự sống và hạnh phúc.
 Điều mà Kim Lân muốn nói là: trong bối cảnh bi thảm, giá trị nhân bản 
 không mất đi, con người vẫn cứ muốn được là con người, muốn được nên 
 người và muốn cuộc đời thừa nhận họ như những con người. Tràng lấy 
 vợ là để tiếp tục sự sống, để sinh con đẻ cái, để hướng đến t- ương lai. 
 Người đàn bà đi theo Tràng cũng để chạy trốn cái đói, cái chết để hướng 
 đến sự sống. Bà cụ Tứ, một bà lão nhưng lại luôn nói đến chuyện tương 
 lai, chuyện sung sướng về sau, nhen lên niềm hi vọng cho dâu con. Đó 
 chính là sức sống bất diệt của Vợ nhặt.
 Đặc biệt tình người, lòng nhân ái, sự cưu mang đùm bọc của những con 
 người nghèo đói là sức mạnh để họ vượt lên cái chết.
3 Vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động nghèo
 • Nhân vật Tràng
 • Bà cụ Tứ
 • Người vợ nhặt 
 III. CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
 1.Tác giả
 • Nguyễn Minh Châu (1930- 1989), quê ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải 
 (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
 Nguyễn Minh Châu được coi là một trong những cây bút tiên phong thời 
 đổi mới. Ông “thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài 
 năng nhất của văn học ta hiện nay” (Nguyên Ngọc)
 Suốt cuộc đời cầm bút ông luôn trăn trở về số phận của nhân dân và trách 
 nhiệm của nhà văn đối với đất nước trong thời đại mới. Hành trình sáng 
 tác của ông chia làm hai giai đoạn rõ rệt: Ngòi bút sử thi có thiên hướng 
 trữ tình lãng mạn (trước thập kỷ 80 của thế kỷ XX) và cảm hứng thế sự 
 với những vấn đề đạo đức và triết học nhân sinh (từ thập kỷ 80 của thế kỷ 
 XX trở đi). Tâm điểm những khám phá nghệ thụât của ông là con người 
 trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và 
 hoàn thiện nhân cách.
 Năm 2000 ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.
 2.Tác phẩm
 a.Xuất xứ D. ĐỀ MINH HOẠ 
 Đề minh họa môn Ngữ văn năm 2020 của Bộ GD & ĐT
 KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2020
 Bài thi: NGỮ VĂN
 Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích:
 Thế nào là anh hùng? Theo tôi, anh hùng là người can đảm cống hiến 
trong mọi hoàn cảnh dù là khó khăn nhất; là một cá nhân hành động không 
vị kỉ và luôn đòi hỏi bản thân mình phải tốt hơn so với mức kì vọng của mọi 
người; là người xem thường nghịch cảnh để kiên quyết thực hiện điều mình 
tin tưởng mà không hề sợ hãi. Anh hùng là người muốn cống hiến, sẵn sàng 
trở thành hình mẫu và sống thật với niềm tin xác quyết của mình. Anh hùng 
luôn xây dựng chiến lược để đảm bảo đạt được kết quả và theo đuổi đến khi 
thành quả mong muốn trở thành hiện thực; họ sẵn sàng thay đổi phương 
pháp nếu cần thiết và hiểu tầm quan trọng của những hành động nhỏ. Anh 
hùng không phải là mẫu người “hoàn hảo” vì chẳng có ai hoàn hảo. Chúng ta 
đều mắc sai lầm, nhưng điều đó không phủ nhận những cống hiến của chúng 
ta trong đời.
(Trích Ðánh thức con người phi thường trong bạn – Anthony Robbins, 
NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2019, tr. 397 – 398)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. mình phải tốt hơn so với mức kì vọng của mọi người; là người xem thường 
nghịch cảnh để kiên quyết thực hiện điều mình tin tưởng mà không hề sợ hãi.
Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về câu: Anh hùng không phải là mẫu người 
“hoàn hảo” vì chẳng có ai hoàn hảo?
 Trước hết cần hiểu mẫu người “hoàn hảo” là gì? Mẫu người hoàn hảo 
là mẫu người toàn diện, đẹp cả về thể chất lẫn tinh thần, đẹp cả trong suy 
nghĩ lẫn hành động. Mẫu người ấy là không thể có khiếm khuyết hay sai lầm.
 Tuy nhiên, “nhân vô thập toàn”, không ai là hoàn hảo cả, anh hùng 
cũng không ngoại lệ. Anh hùng cũng là con người, mà con người thì có lúc 
cũng phải sai lầm đó là điều không thể tránh khỏi.
 Mặt khác, anh hùng có thể chỉ xuất chúng vào một giai đoạn, một 
hoàn cảnh nhất định nào đó. Còn trong đời thường, họ vẫn là những con 
người như bao con người bình thường. Bởi vậy, sai lầm lớn nhất của chúng ta 
là luôn mặc định đã là anh hùng là phi thường, là người hoàn hảo.
 Cả câu ý muốn nói, cũng đừng thần thánh hóa anh hùng, anh hùng 
đôi khi cũng có những sai lầm khiếm khuyết, họ không phải hoàn hảo. Nhưng 
quan trọng là họ đã đóng góp lớn lao cho cuộc đời, luôn phấn đấu để hoàn 
thiện mình, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn mà không run sợ hay tính toán. 
Nguồn: Thầy Phan Danh Hiếu
Câu 4. Anh/Chị có đồng tình với quan niệm: Chúng ta đều mắc sai lầm 
nhưng điều đó không phủ nhận những cống hiến của chúng ta trong đời? Vì 
sao?
– Em đồng tình với quan niệm: “Chúng ta đều mắc sai lầm nhưng điều đó 
không phủ nhận những cống hiến của chúng ta trong đời”.
– Vì:
+ Sai lầm là điều không thể tránh khỏi trong cuộc sống. Vì ai cũng có mặt 
mạnh và mặt yếu, những ưu điểm và khuyết điểm. Nhờ sai lầm ta mới có bài 
học kinh nghiệm, mới có kỹ năng sống cho bản thân.
+ Khi lỡ phạm sai lầm, bản thân chúng ta đừng nhìn mãi vào sai lầm của 
mình hoặc của người khác, đừng dằn vặt bản thân vì những thiếu sót mà hãy 
suy nghĩ tích cực về những việc đã làm. – Hiểu như vậy, ta mới thấy rằng, đâu cần phải là người vĩ đại, đâu nhất thiết 
cứ phải làm những điều to lớn thì mới trở thành anh hùng.
Câu 2. Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đêm mùa xuân ở 
Hồng Ngài.
Phân tích diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân
Đề ra: Phân tích tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài. (Hay 
sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân)
DÀN Ý NGẮN GỌN CHO DÂN HỌC CƠ BẢN
I. Mở bài
Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. 
Ông có vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng văn hoá 
khác nhau trên đất nước ta. Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm 
viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc. Tiêu biểu là truyện 
ngắn “Vợ chồng A Phủ”. Tác phẩm vừa là một bức tranh chân thực về số 
phận bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức phong kiến và 
thực dân, vừa là một bài ca về sức sống và khát vọng tự do, hạnh phúc của 
con người. Vẻ đẹp ấy đã ngời lên thật trọn vẹn qua diễn biến tâm trạng Mị và 
sức sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân vật này qua đêm tình mùa xuân ở 
Hồng Ngài.
II. Thân bài
1. Khái quát
Truyện “Vợ chồng A Phủ” được nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1952, in trong 
tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm gồm hai phần: phần đầu kể về cuộc sống tủi 
nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài; phần sau kể về Mị và A Phủ ở Phiềng Sa, 
họ thành vợ chồng. Được cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng, A Phủ trở thành 
tiểu đội trưởng du kích cùng Mị đánh Pháp bảo vệ dân làng. Đoạn trích trong 
sách giáo khoa là phần thứ nhất của tác phẩm. Trong tác phẩm này, diễn 
biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân được xem là ấn tượng 
nhất – thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Tô Hoài trong việc miêu tả 
tâm lý nhân vật. lực của tội ác cũng không tiêu diệt được sức sống con người. Đói khổ, 
lay lắt, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng mãnh liệt”.
2.2. Sức sống tiềm tàng của Mị cũng như diễn biến tâm trạng của 
nhân vật này bắt đầu đến từ những tín hiệu mùa xuân, tín hiệu đêm 
tình:
– Thiên nhiên mùa xuân tác động đến Mị: đó là một mùa xuân rộn rã âm 
thanh, sắc màu của “váy hoa xoè như con bướm sặc sỡ” hoà trong “gió rét 
thổi vào cỏ gianh vàng ửng”; tiếng trẻ đợi tết chơi quay cười ầm trên sân 
trước nhà. Chính cái náo nức của đất trời cũng là cái náo nức của lòng người.
– Khi nghe tiếng sáo gọi bạn “lấp ló ngoài đầu núi”: Mị thấy trái tim 
mình “thiết tha, bổi hổi”, Mị ngồi “nhẩm thầm” lời bài hát của người đang thổi 
sáo. Tiếng sáo ấy đã lâu rồi không thổi, bài hát ấy từ lâu cũng đã quên. 
Nhưng hôm nay Mị vẫn nhớ, vẫn thuộc, vẫn nhẩm thầm. Vậy là Mị chưa có 
nghĩa đã hoàn toàn vô cảm. Hay nói đúng hơn, chính tiếng sáo là tác nhân đã 
lay động sâu xa tâm hồn Mị và đánh thức quá khứ cùng hiện tại của Mị. Tiếng 
sáo là một ẩn dụ cho tự do, cho tuổi trẻ và ký ức đẹp tươi của cô gái trẻ 
người Mèo. Tiếng sáo cũng chính là men tình đã đánh thức tâm hồn và lý trí 
của Mị.
2.2. Sau khi nghe tiếng sáo: “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng 
bát”. Đây thực chất là một “cuộc nổi loạn nhân tính” của Mị. Cách uống ấy là 
sự dồn nén của những ẩn ức, phẫn uất nên uống rượu mà cứ như nuốt cay 
nuốt hận vào lòng. Rượu làm Mị say “ngồi trơ một mình giữa nhà”. Nhưng 
“lòng Mị thì đang sống về ngày trước”. Mị đi đi về về giữa hai thế giới: quá 
khứ và hiện tại; tỉnh và say. Mị nhớ về thời con gái của mình “ngày trước Mị 
thổi sáo giỏi, thổi lá cũng hay như thổi sáo, có biết bao người mê ngày đêm 
đã thổi sáo đi theo Mị”. Nhưng đối lập với ký ức tươi đẹp ấy là hiện tại đầy tủi 
nhục của Mị “A Sử chẳng bao giờ cho Mị đi chơi tết”.
2.3. Khát vọng tự do, hạnh phúc còn được thể hiện qua tâm trạng của 
Mị khi ở trong buồng.
 Căn buồng là địa ngục, ngoài kia là thiên đường. Thiên đường và địa 
ngục chỉ cách nhau có một ô cửa bằng bàn tay. Nhưng sự tủi nhục không 
ngăn được lòng yêu tự do của Mị. Bởi: “đã từ nãy Mị thấy phơi phới trở lại, 
trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước”. Những từ 
ngữ như “phơi phới”, “đột nhiên vui sướng” như diễn tả tận sâu thẳm niềm 
khao khát của Mị. Mị nhận ra “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”. 
Câu văn sử dụng phép điệp: trẻ lắm, còn trẻ,kết hợp kiểu câu đơn ngắn làm 

File đính kèm:

  • docde_cuong_on_tap_hoc_ky_ii_mon_ngu_van_lop_12_nam_hoc_2019_20.doc