Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn Khối 9 - Năm học 2017-2018 - Trường THCS&THPT Võ Nguyên Giáp

doc 27 trang giaoanhay 11/01/2026 120
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn Khối 9 - Năm học 2017-2018 - Trường THCS&THPT Võ Nguyên Giáp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn Khối 9 - Năm học 2017-2018 - Trường THCS&THPT Võ Nguyên Giáp

Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn Khối 9 - Năm học 2017-2018 - Trường THCS&THPT Võ Nguyên Giáp
 Đề cương ôn tập HK II
 ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ II MÔN NGỮ VĂN KHỐI 9
 NĂM HỌC 2017 - 2018
 Giới hạn về thời gian: hết tuần 33
 Mức độ nhận thức: Nhận biết 50%; Thông hiểu 30%; Vận dụng 20%
 Số lượng câu và nội dung: 3 câu
 - Câu 1: Kiến thức về đọc hiểu (3,00 điểm): đọc, tìm nội dung chính, thông tin quan trọng, lí giải ý nghĩa văn 
 bản, tên văn bản
 - Câu 2: Kiến thức tiếng Việt (3,00 điểm); khởi ngữ, các thành phần biệt lập, liên kết câu và liên kết đoạn, 
 nghĩa tường minh và hàm ý, các biện pháp tu từ . . .
 - Câu 3: Viết bài văn nghị luận xã hội hoặc nghị luận văn học (4,00 điểm)
Phần 1: ĐỌC HIỂU
* Yêu cầu: 
 - Đọc lại các văn bản nghị luận (từ bài 18 đến bài 21)
 + Nắm lại các luận điểm của bài, nội dung của từng đoạn, toàn bài
 + Phương thức biểu đạt
 + Đọc các chú thích SGK
 - Văn bản thơ (từ bài 22 đến bài 25)
 + Học thuộc các bài thơ, đoạn trích,
 + Giải nghĩa từ ngữ,
 - Tác phẩm truyện và kịch (từ bài 27 đến bài 33)
 + Tóm tắt, nêu được tình huống truyện, nắm vững nội dung và nghệ thuật của truyện và kịch;
 + Ý nghĩa nhan đề, nội dung đoạn thơ, bài thơ
 Phần 2: TIẾNG VIỆT
 - Nắm được các khái niệm: khởi ngữ, các thành phần biệt lập, liên kết câu và liên kết đoạn, nghĩa tường minh và hàm 
 ý, các biện pháp tu từ ....
 - Xem lại các bài tậpSGK và SBT.
Phần 3: TẬP LÀM VĂN
 - Xem lại cách làm bài “Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống”, “Nghị luận về một tư tưởng 
 đạo lí” “Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích”, “Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ”
 1 Đề cương ôn tập HK II
là một phát hiện mới mẻ và sáng tạo độc đáo trong ý tưởng thơ và ngôn ngữ của nhà thơ. Từ láy “nho nhỏ” vừa chỉ ra 
cái mùa xuân riêng trong lòng nhà thơ trước mùa xuân lớn của cuộc đời vừa gợi lên cái vẻ xinh xinh đáng yêu của nó. 
Hình ảnh ấy cùng với những hình ảnh cành hoa, con chim, nốt nhạc trầm xao xuyến.... tất cả đều mang một vẻ đẹp bình 
dị, khiêm nhường, thể hiện điều tâm niệm chân thành, tha thiết của nhà thơ. Nhà thơ tự nguyện làm một mùa xuân 
nghĩa là ông muốn sống đẹp, có ích, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình và mang đến cho cuộc đời chung một 
nét riêng, cái phần tinh tuý của mình, dù nhỏ bé.
II. Gợi ý phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”
a. Mùa xuân của thiên nhiên đất nước (khổ 1)
* Cảm hứng xuân phơi phới của Thanh Hải đã dệt nên một bức tranh xuân rất đẹp, đầy sức sống và tràn ngập niềm vui 
rạo rực. 
 - Bức tranh ấy được chấm phá bằng rất ít chi tiết: một dòng sông xanh, một bông hoa tím biếc, một tiếng chim 
chiền chiện. Những nét chấm phá ấy đã vẽ ra được một không gian cao rộng, màu sắc tươi thắm của mùa xuân và cả 
âm thanh vang vọng, tươi vui của chim chiền chiện.
 +Ngay hai câu mở đầu đã gặp một cách viết khác lạ. Không viết như bình thường : một bông hoa tím biếc mọc 
giữa dòng sông xanh” mà đảo lại: “Mọc giữa dòng sông xanh. Một bông hoa tím biếc”. Động từ “mọc” đặt ở đầu khổ 
thơ của bài thơ là một dụng ý NT của tác giả => khắc sâu ấn tượng về sức sống trỗi dậy và vươn lên của mùa 
xuân.Tưởng như bông hoa tím biếc kia đang từ từ, lồ lộ mọc lên, vươn lên, xoè nở trên mặt nước xanh của dòng sông 
xuân.
 + Tại sao màu nước sông lại xanh mà không là “dòng nước trong mát” (bài “Vàm cỏ đông” của Hoài Vũ), hay 
không là “dòng sông đỏ nặng phù sa” trong thơ Nguyễn Đình Thi – bài Đất nước)? Có phải đấu là màu nước của 
Hương Giang, hay chính là tín hiệu báo mùa xuân đang về? Mùa xuân trang trải êm trôi một dòng xanh dịu mát. Màu 
xanh lam của dòng sông hương hoà cùng màu tím biếc của hoa, một màu tím giản dị, thuỷ chung, mộng mơ và quyến 
rũ. Đó là mầu sắc đặc trưng của xứ Huế. 
 + Tiếng chim chiền chiện tạo nên một nét đẹp nữa của mùa xuân: “Ơi con chim chiền chiện. Hót chi mà vang 
trời”=>. nhạc điệu của câu thơ như giai điệu của mùa xuân tươi vui và rạo rực. Các từ “ơi”, “chi”, mang chất giọng 
ngọt ngào đáng yêu của người xứ Huế (thân thương, gần gũi) . Câu thơ cứ như câu nói tự nhiên không trau chuốt từ 
ngữ nhưng vẫn mang âm hưởng thi ca. Câu hỏi tu từ “hót chi” thể hiện tâm trạng đùa vui, ngỡ ngàng, thích thú của tác 
giả trước giai điệu của mùa xuân. 
 - Quả thật, thiên nhiên nhất là mùa xuân vốn hào phóng, sẵn sàng trao tặng con người mọi vẻ đẹp nếu con người 
biết mở rộng tấm lòng. Thanh Hải đã thực sự đón nhận mùa xuân với tất cả sự tài hoa của ngòi bút, sự thăng hoa của 
tâm hồn. Nhà thơ lặng ngắm, lặng nghe bằng cả trái tim xao động, bằng trí tưởng tượng, liên tưởng độc đáo: 
 “Từng giọt long lanh rơi.
 Tôi đưa tay tôi hứng”
 Về hai câu thơ trên, có hai cách hiểu: từng giọt ở đây là giọt mưa xuân long lanh trong ánh sáng của trời xuân; 
nhưng cũng còn có thể hiểu hai câu này gắn với hai câu trước: Tiếng chim đang vang xa bỗng gần lại, rõ ràng, tròn trịa 
như kết thành những giọt sương óng ánh sắc màu, rơi rơi, rơi mãi tưởng chừng không dứt và nhà thơ đưa tay hứng 
từng giọt âm thanh ấy. Như vậy từ một hình tượng, một sự vật được cảm nhận bằng âm thanh (thính giác), tác giả đã 
chuyển đổi biến nó thành một sự vật có thể nhìn được bằng mắt (thị giác) bởi nó có hình khối, màu sắc rồi lại được 
như cảm nhận nó bằng da thịt, bằng sự tiếp xúc (xúc giác).Nghệ thuật ví ngầm, chuyển đổi cảm giác quả đã đạt tới 
mức tinh tế đáng khâm phục. Hai câu thơ đã biểu hiện niềm say sưa, ngây ngất, xốn xang, rạo rực của nhà thơ trước vẻ 
đẹp của thiên nhiên, đất trời lúc vào xuân. Chắc hẳn trong lòng thi sĩ đang dạt dào tình yêu quê hương, đất nước, tình 
yêu cuộc đời.
b. Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời, cảm hứng thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân của đất nước một cách tự 
nhiên.
 -Đây là mùa xuân của con người đang lao động và chiến đấu, của đất nước vất vả và gian lao đang đi lên phía 
trước. Hình ảnh “người cầm súng, người ra đồng” biểu trưng cho hai nhiệm vụ chiến đấu và lao động dựng xây lại quê 
hương sau những đau thương mất mát. Ai cũng có nhiệm vụ của mình: người lính tiếp tục bảo vệ quê hương, vòng là 
nguỵ trang của người chiến sĩ đang nảy những chồi non, lộc biếc như mang theo cả mùa xuân cùng các anh ra trận. 
 3 Đề cương ôn tập HK II
 Kết cấu đầu cuối tương ứng tạo ra sự đối ứng chặt chẽ, hài hoà cân đối cho bài thơ đồng thời thể hiện rõ hơn 
mong muốn được sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên.
 - Kết thúc bài thơ là câu hát “Câu Nam ai, nam bình” Nam Ai nam Bình là những điệu ca Huế nổi tiếng
 - Đó là ý nguyện của người tha thiết với vẻ đẹp của tâm hồn quê hương đất nước mình. 
 Bài 2: VIẾNG LĂNG BÁC
 - Viễn Phương-
1. Tác giả: 
 - Nhà thơ Viễn Phương (1928 - 2005),tên thật là Phan Thanh Viễn quê ở Tân Châu, An Giang. Ông là một 
trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng Văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. 
 - Thơ Viễn Phương thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm, khá quen thuộc với bạn đọc thời kháng chiến chống Mĩ.
Bạn đọc biết đến Viễn Phương với khá nhiều tập thơ hay: Mắt sáng học trò; Nhớ lời Di chúc; Như mây mùa xuân; Phù 
sa quê mẹ
 -. Trong niềm xúc động vô bờ của đoàn người vào lăng viếng Bác, Viễn Phương viết bài thơ này. Bài thơ thể hiện 
niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào xen lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác
2. Tác phẩm:
 a. Sáng tác: Năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng Chủ 
tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ “Viếng lăng 
Bác” được sáng tác trong dịp đó và in trong tập thơ “Như mấy mùa xuân” (1978).
 b. Thể thơ: Thơ 8 chữ nhưng không câu nệ vào quy định cũ nên có dòng 7 chữ, 9 chữ.
 c. Mạch cảm xúc của bài thơ: Mạch cảm xúc đi theo trình tự vào viếng lăng Bác : bên ngoài lăng (hàng tre, 
dòng người), bên trong (xúc động thấy Bác trong giấc ngủ bình yên), và khi sắp phải trở về (mong ước mãi bên Bác). 
Cảm xúc bao trùm của tác giả : niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn xót xa khi vào 
viếng lăng Bác.
 d. Nội dung, nghệ thuật:
 - Nội dung: Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và của mọi người khi vào 
lăng viếng Bác.
 - Nghệ thuật:
 + Bài thơ có giọng điệu phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúcvừa trang nghiêm sâu lắng vừa tha thiết, đau 
xót, tự hào, thể hiện tâm trạng xúc động của nhà thơ vào lăng viếng Bác.
 + Thể thơ tám chữ có dòng bảy chữ gieo vần lưng. Khổ thơ không cố định có khi liền khi cách nhịp. Nhịp thơ 
chậm, diễn tả sự trang nghiêm, thành kính, lắng đọng.
 + Hình ảnh thơ sáng tạo, có nhiều biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, tượng trưng.
II. Gợi ý phân tích bài thơ “Viếng lăng Bác”
 - Khổ 1: Tác giả giới thiệu hoàn cảnh Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác, đồng thời bộc lộ tâm trạng dồn nén, xúc 
động, bởi đây là cuộc viếng thăm thiêng liêng, đầy ý nghĩa với cách xưng hô Con – Bác . Hình ảnh đầu tiên nhà thơ 
chú ý là hàng tre thân thuộc, kiên cường, bền bỉ, biểu trưng cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam.
 + Câu thơ đầu: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác không chỉ giới thiệu hoàn cảnh mà còn gợi lên tâm trạng đặc 
biệt thiêng liêng, đầy ý nghĩa của cuộc viếng lăng Bác. 
Cách xưng hô thật gần gũi, thân thương. Với muôn triệu người dân VN, Bác mãi “là Cha, là Bác, là Anh. Người không 
con mà có triệu con“ cho nên nhà thơ mới xưng con. Các nhà thơ Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình 
Thi đều xưng con với Bác. Nhưng con ở miền Nam, của Viễn Phương mang một sắc thái thiêng liêng bở đó là tiếng 
lòng của đứa con đi xa vắng mặt khi cha mất. 
 5 Đề cương ôn tập HK II
ánh trăng, trời xanh đó là những cái mênh mông, bao la bất diệt của vũ trụ được nhà thơ ví với cái bao la, rộng lớn 
trong tình thương của Bác. Đó cũng là biểu hiện vĩ đại, rực rỡ cao siêu của con người và sự nghiệp của Bác. 
 +Niềm xúc động thành kính và nỗi đau xót của nhà thơ đã được thể hiện rất chân thành và sâu sắc: Vẫn biết trời 
xanh là mãi mãi- Mà sao nghe nhói ở trong tim. Đây là cái giật mình thảng thốt, một sự mâu thuẫn giữa lí trí và tình 
cảm. Lí trí tin rằng Bác vẫn còn sống mãi cùng non sông đất nước, như trời xanh còn mãi trên đầu
 Bác sống như trời đất của ta (Tố Hữu).
 Nhưng trái tim lại không thể không đau nhói, xót xa vì sự ra đi của Bác. Đó là nỗi đau oà ra từ đáy sâu của trái 
tim: Bác mất rồi! Bác không thể gặp mặt với những đứa con miền Nam mà Người hằng chờ mong.
 - Khổ 4: Thể hiện nỗi niềm thiết tha và ước nguyện của nhà thơ muốn được mãi ở bên Bác (Chú ý điệp ngữ muốn 
làm và kết cấu đầu cuối tương ứng (cây tre)). Đây là ước nguyện chân thành, lời hứa thuỷ chung của nhà thơ với Bác. 
Đó cũng là lời nói hộ ý nguyện của đồng bào miền Nam, của mỗi chúng ta quyết tâm đi theo lí tưởng cao đẹp và con 
đường cách mạng Bác đã vạch ra.
 + Khổ cuối khép lại những nỗi đau, mất mát mà cả dân tộc đã trải qua khi nghe tin Bác qua đời (1969). Chỉ còn 
lại những giọt nước mắt của người con viếng muộn: Mai về MN thương trào nước mắt. Nghĩ đến ngày mai về miền 
Nam, nỗi thương xót trào rơi nước mắt. Không phải rưng rưng, rơm rớm, mà là trào, một cảm xúc thật chân thành, 
mãnh liệt.
 +Và theo đó là những niềm ao ước, những mong mỏi mãi mãi bên Người:
 Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
 Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
 Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
 Là chim, là hoa, là cây nhưng tất cả là ở bên lăng, ở quanh lăng. Chim dâng tiếng hót, hoa dâng mùi hương, tre 
trung hiếu gác giấc ngủ êm đềm. Ước muốn đó thể hiện tình cảm thành kính, thiêng liêng của nhà thơ, một người con 
Nam Bộ, nhưng đó cũng là tình cảm của nhân dân miền Nam, của dân tộc Việt Nam đối với Bác. Để diễn tả nỗi niềm 
riêng nhưng mang tình cảm khái quát chung ấy, tác giả đã viết một loạt câu thơ không chủ ngữ, nhấn mạnh ba lần điệp 
ngữ muốn làm như một khát vọng khôn nguôi. Khát vọng của những người đã một lần được về thăm lăng, những 
người chưa một lần được đến thăm lăng mà tấm lòng luôn hướng về Bác kính yêu.
 - Nhận xét thành công của bài thơ:
 Bài thơ tả lại một ngày ra thăm lăng Bác, từ lúc tinh sương đến trưa, đến chiều. Nhưng thời gian trong tưởng 
niệm là thời gian vĩnh viễn của vũ trụ, của tâm hồn. Cả bài thơ bốn khổ, khổ nào cũng trào dâng một niềm thương nhớ 
bao la và xót thương vô hạn. Bốn khổ thơ, khổ nào cũng đầy ắp ẩn dụ, những ẩn dụ đẹp và trang nhã, thể hiện sự thăng 
hoa của tình cảm cao cả, nâng cao tâm hồn con người. Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương là một đóng góp quý 
báu vào kho tàng thi ca viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại, kính yêu của dân tộc. Chúng ta, con cháu của Bác 
xin nguyện như nhà thơ VP làm tiếng chim hót, làm bông hoa đẹp, làm cây tre trung hiếu và sẵn sàng làm muôn ngàn 
công việc tốt để kính dâng lên Người.
 BÀI 3: SANG THU
I. Kiến thức cần nhớ.
1. Tác giả: 
 - Hữu Thỉnh (Nguyễn Hữu Thỉnh) sinh năm 1942, quê Vĩnh Phúc. Ông là nhà thơ trưởng thành trong quân đội. 
Từ một cán bộ văn hóa, tuyên huấn và sáng tác thơ, ông đã làm Phó tổng biên tập tạp chí Văn nghệ quân đội, Tổng 
biên tập báo Văn nghệ. Từ năm 2000, ông là Tống thư kí Hội Nhà văn Việt Nam. 
 - Thơ ông mang đậm hồn thơ Việt Nam dân dã, mộc mạc, tinh tế, nhiều rung cảm. Ông viết nhiều về con người, 
cuộc sống ở nông thôn và mùa thu. Nhiều bài thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng, vấn vương trước đất trời 
trong trẻo, đang chuyển biến nhẹ nhàng
2. Tác phẩm:
a. Sáng tác: Sang thu được sáng tác vào gần cuối năm 1977, in lần đầu trên báo Văn nghệ. In trong tập “Từ chiến hào 
đến thành phố”
b. Thể thơ: Năm tiếng - ngũ ngôn 
 7

File đính kèm:

  • docde_cuong_on_tap_hoc_ki_ii_mon_ngu_van_khoi_9_nam_hoc_2017_20.doc