Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn Khối 12 - Năm học 2020-2021 - Trường THPT Phan Bội Châu

pdf 10 trang giaoanhay 11/02/2026 50
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn Khối 12 - Năm học 2020-2021 - Trường THPT Phan Bội Châu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn Khối 12 - Năm học 2020-2021 - Trường THPT Phan Bội Châu

Đề cương ôn tập học kì I môn Ngữ văn Khối 12 - Năm học 2020-2021 - Trường THPT Phan Bội Châu
 Trường THPT Phan Bội Châu 
 Tổ Ngữ văn 
 ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN KHỐI 12 
 HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2020-2021 
PHẦN MỘT: VĂN BẢN VĂN HỌC 
A. SÓNG (Xuân Quỳnh) 
I. Khái quát về tác giả, tác phẩm 
1.Tác giả Xuân Quỳnh 
- Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ nhà thơ trẻ trưởng 
thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước 
-Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, 
tươi tắn, vừa chân thành, đằn thắm và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc bình dị 
đời thường. 
2. Bài thơ Sóng 
 - Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái 
Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu,tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh 
- Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào 
III. Tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật 
1. Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng (khổ 1,2) 
- Thủ pháp đối lập: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ 
→ Các cung bậc, sắc thái khác nhau của sóng cũng giống như những cung bậc tình cảm 
phong phú, những trạng thái đối cực phức tạp, đầy nghịch lí của người phụ nữ khi yêu 
- Hình ảnh ẩn sụ, nhân hóa “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể”: khát vọng 
vươn xa, thoát khỏi những gì chật chội, nhỏ hẹp, tầm thường 
→ Quan niệm mới về tình yêu: yêu là tự nhận thức, là vươn tới cái rộng lớn, cao xa 
- Phép so sánh, liên tưởng “Ôi con sóng ngày xưa ... Bồi hồi trong ngực trẻ”: Lời khẳng 
định khát vọng tình yêu cháy bỏng, mãnh liệt luôn luôn thường trực trong trái tim tuổi 
trẻ 
2. Những suy nghĩ, trăn trở về cội nguồn và quy luật của tình yêu (khổ 3,4) - Khát khao của nguời phụ nữa được hòa mình vào cuộc đời, được sống trong “biển lớn 
tình yêu” với một tình yêu trường cửu, bất diệt với thời gian. 
5. Đặc sắc nghệ thuật 
- Thể thơ năm chữ tạo âm điệu sâu lắng, dạt dào, như âm điệu của những con sóng biển 
và cũng là sóng lòng của người phụ nữ khi yêu. 
- Cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng khoáng và cách gieo vần, phối âm độc đáo, giàu sức 
liên tưởng 
- Giọng thơ vừa thiết tha, đằm thắm, vừa mãnh liệt sôi nổi, vừa hồn nhiên, nữ tính 
- Xây dựng thành công hình tượng sóng, vừa mang nghĩa thực, vừa mang nghĩa ẩn dụ 
- Sử dụng hiệu quả các biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, đối lập - tương phản, ... 
B. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (Trích) (Nguyễn Tuân) 
I.Vài nét về tác giả, tác phẩm 
- Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Ông là một nghệ 
sĩ tài hoa, uyên bác, có cá tính độc đáo. Là nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện 
đại, Nguyễn Tuân sáng tác nhiều thể loại song đặc biệt thành công ở thể tùy bút. 
- “Người lái đò Sông Đà” được Nguyễn Tuân sáng tác sau những chuyến đi thực tế gian 
khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc xa xôi, rộng lớn. Bài tùy bút được in trong tập “Sông 
Đà” xuất bản năm 1960. 
II.Tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật 
1. Hình tượng con sông Đà 
Con sông Đà trên trang văn của Nguyễn Tuân hiện lên như một “nhân vật” có hai tính 
cách trái ngược: hùng vĩ, hung bạo và trữ tình, thơ mộng. 
a. Con sông Đà hùng vĩ, hung bạo: 
- Địa hình hiểm trở: Sông Đà hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân thật dữ tợn với 
những hút nướcsâu thăm thẳm, những quãng sông đầy ghềnh thác, những vách đá dựng 
thành vách. 
- Tính cách hung bạo, hiểm ác của con sông Đà được miêu tả tập trung ở khúc thác dữ, 
nghệ thuật nhân hóa, so sánh được sử dụng một cách đặc sắc để miêu tả nước và đá ở 
khúc thác. Cảm xúc tình tứ, tha thiết của một người tình nhân chưa quen biết. 
c. Nghệ thuật xây dựng hình tượng: 
- Tác giả đã miêu tả Sông Đà bằng những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc 
đáo, bất ngờ và rất thú vị. Từ ngữ trong bài tùy bút thật phong phú, sống động, giàu hình 
ảnh và có sức gợi cảm cao. 
- Câu văn của tác giả rất đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi 
thì chậm rãi, trữ tình. Con Sông Đà vô tri, dưới ngòi bút của nhà văn đã trở thành một 
sinh thể có tâm hồn, tâm trạng. 
- Hình tượng Sông Đà được tác giả khắc họa độc đáo, nổi bật với hai đặc điểm: vừa hung 
vĩ, hung bạo, vừa thơ mộng, trữ tình. Qua hình tượng con Sông Đà, nhà văn ca ngợi vẻ 
đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, thể hiện tình cảm tha thiết của mình với đất nước. 
2. Hình tượng người lái đò 
a. Tác giả giới thiệu chung về người lái đò 
- Hình ảnh người lái đò trên Sông Đà: 
- Ngoại hình: Ông lái đò có một ngoại hình đặc biệt. Dấu ấn nghề nghiệp in đậm trên cơ 
thể, giọng nói, “nhỡn giới” của ông. 
- Nguồn gốc, lai lịch: 
 Ông lái đò Lai Châu, quê ở ngã tư sông sát tỉnh. 
 Ông là người từng trải trong nghề chở đò dọc suốt sông Đà đã mười năm liền. 
- Sự hiểu biết về sông Đà: 
 Ông nắm chắc từng luồng lạch, từng ngọn thác và đặc biệt ông nắm rất vững 
 quy luật của “thần sông, thần đá” trên con sông nổi tiếng vùng Tây Bắc. 
 Ông am hiểu sông Đà tường tận: Trí nhớ ông được rèn luyện ...những đoạn xuống 
 dòng. 
==> Ông lái đò là người rất gắn bó với nghề nghiệp, từng trải trong nghề chèo đò. 
- Cuộc sống của người lái đò là “cuộc chiến đấu” hằng ngày với thiên nhiên Tây Bắc, có 
nhiều lúc trông nó ra thành diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một của con người. 
Trong cuộc mưa sinh đày gian khổ ấy, phẩm chất của người lái đò được bộc lộ một cách 
rõ nét, thể hiện qua “cuộc chiến đấu gian lao” trên chiến trường Sông Đà, trên một quãng 
thủy chiến ở mặt trận Sông Đà. – Khắc họa hình tượng người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân đã sử dụng nhiều biện pháp 
nghệ thuật đặc sắc. Miêu tả ông lái đò vượt thác, tác giả đã sử dụng tri thức của nhiều 
lĩnh vực như thể thao, quân sự, võ thuật, với những câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu 
nhịp điệu, hối hả, gân guốc, từ ngữ sống động, giàu hình ảnh, mới lạ, độc đáo. 
C. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) 
I.Vài nét về tác giả, tác phẩm 
- Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút ký. Nét đặc sắc 
trong sáng tác của ông là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, 
giữa nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về 
triết học, văn hóa địa lý, Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội súc tích, mê 
đắm và tài hoa. 
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? Là bút ký xuất sắc, viết tại Huế ngày 4 -1 -1981, in trong 
tập sách cùng tên. Bài bút ký có ba phần, văn bản trong sách giáo khoa là phần thứ nhất. 
II.Tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật 
1. Thủy trình của Hương giang 
– Ở thượng nguồn: sông Hương có vẻ đẹp hoang dại, đầy cá tính, là “bản trường ca của 
rừng già”, là “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”, là “người mẹ phù sa của một 
vùng văn hóa xứ sở”. 
– Đến ngoại vi thành phố Huế: sông Hương như “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa 
cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” được người tình mong đợi đến đánh thức. Thủy trình 
của sông Hương khi bắt đầu về xuôi tựa “một cuộc tìm kiếm có ý thức” người tình nhân 
đích thực của một người con gái đẹp trong câu chuyện tình yêu lãng mạn nhuốm màu cổ 
tích. 
– Đến giữa thành phố Huế: sông Hương như tìm được chính mình “vui hẳn lênmềm 
hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”.Nó có những đường nét tinh tế, 
đẹp như “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”, như “người tài nữ đánh đàn lúc đêm 
khuya”,.. 
– Trước khi từ biệt Huế: sông Hương giống như “người tình dịu dàng và chung thủy”. 
Con sông như “nàng Kiều trong đêm tự tình”, “trở lại tìm Kim Trọng” để nói một lời thề 
trước lúc đi xa 
2. Dòng sông của lịch sử và thi ca 
– Trong lịch sử, sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu bao chiến công 
oanh liệt của dân tộc. - Con ơi 
 trước khi nhắm mắt 
 Cha con dặn con suốt đời 
 Phải làm một người chân thật. 
 - Mẹ ơi, chân thật là gì? 
 Mẹ tôi hôn lên đôi mắt 
 Con ơi một người chân thật 
 Thấy vui muốn cười cứ cười 
 Thấy buồn muốn khóc là khóc. 
 Yêu ai cứ bảo là yêu 
 Ghét ai cứ bảo là ghét 
 Dù ai ngon ngọt nuông chiều 
 Cũng không nói yêu thành ghét. 
 Dù ai cầm dao dọa giết 
 Cũng không nói ghét thành yêu... 
 ( Lời mẹ dặn, Phùng Quán) 
 Câu 1. Xác định thể thơ của đoạn thơ trên. (0.5 điểm) 
 Câu 2. Trong đoạn thơ, người cha trước khi nhắm mắt đã dặn con điều gì? (0.5 điểm) 
 Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong những dòng thơ sau (1.0 điểm) 
 Dù ai ngon ngọt nuông chiều 
 Cũng không nói yêu thành ghét 
 Dù ai cầm dao dọa giết 
 Cũng không nói ghét thành yêu 
 Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan điểm trong câu thơ Yêu ai cứ bảo là yêu/Ghét ai cứ bảo 
 là ghét không? Vì sao? (viết 5-7 dòng) (1.0 điểm) 
 II. PHẦN LÀM VĂN (7 điểm) 
 “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng lờ. Hình như từ đời Lí 
đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một 
nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịch không một bóng người. Cỏ gianh 
đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương 
đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích 

File đính kèm:

  • pdfde_cuong_on_tap_hoc_ki_i_mon_ngu_van_khoi_12_nam_hoc_2020_20.pdf